Los Angeles ghi nhận số ngày quay phim ngoài trời thấp nhất trong lịch sử ngoài các năm đại dịch: tổng số ngày quay giảm 16,1% trong năm 2025 so với năm 2024, theo dữ liệu của FilmLA, riêng quý 1 năm 2025 giảm 22% so với cùng kỳ năm trước. Các ưu đãi sản xuất, chênh lệch chi phí lao động và lợi thế múi giờ tại Đông Nam Á là những yếu tố mà ngành sản xuất liên tục nhắc đến. Nguồn vốn và đoàn phim đang dịch chuyển, và Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trở thành điểm đến mà các công ty sản xuất nước ngoài tìm đến khi bắt đầu đặt câu hỏi: tiếp theo là đâu?
Trước khi quay bất kỳ cảnh nào tại Việt Nam, dù là quảng cáo thương mại, phim doanh nghiệp hay phim thương hiệu, một yếu tố định hình toàn bộ lịch tiền kỳ: giấy phép quay phim. Hiểu đúng khung pháp lý của Việt Nam không phải là đối phó với thủ tục hành chính, mà là một đầu vào lập kế hoạch sản xuất thiết yếu. Sự khác biệt đó được thể hiện rõ nhất ở tiến độ.
Phân luồng quản lý quyết định tiến độ dự án
Việt Nam phân luồng giấy phép quay phim cho đoàn nước ngoài qua hai bộ khác nhau. Sự chênh lệch thời gian xử lý giữa hai luồng đủ lớn để ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ bàn giao và cam kết với khách hàng.
Với phần lớn công việc thương mại, cơ quan có thẩm quyền là Bộ Ngoại giao (MoFA). Chương trình truyền hình, phim tài liệu, quảng cáo thương mại, phim doanh nghiệp, phim thương hiệu, video âm nhạc và tin tức đều thuộc thẩm quyền của MoFA. Thời gian xử lý tiêu chuẩn là năm đến bảy ngày làm việc, dù các chuyên gia sản xuất đều khuyên nộp hồ sơ trước ít nhất mười ngày làm việc tính từ ngày đoàn đến Việt Nam.
Các sản xuất điện ảnh dài tập, được phân loại là tác phẩm điện ảnh, phải nộp hồ sơ tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (MoCST). Quy trình này kéo dài từ mười lăm đến ba mươi ngày làm việc. Trung tâm Báo chí Nước ngoài Việt Nam (presscenter.org.vn) đóng vai trò đầu mối tiếp nhận hồ sơ từ các đoàn nước ngoài đi qua kênh MoFA, phối hợp với các đối tác Việt Nam được công nhận.
Phân loại sai loại hình sản xuất, ví dụ nộp phim thương hiệu vào kênh MoCST dành cho phim điện ảnh, có thể khiến tiến độ bị chậm hàng tuần thay vì vài ngày. Sự phân biệt đôi khi không rõ ràng ở giai đoạn brief, và tư vấn địa phương là công cụ phân loại đáng tin cậy nhất.
Bộ hồ sơ cần chuẩn bị
Hồ sơ đầy đủ bao gồm một tập tài liệu xác định, nộp qua một pháp nhân Việt Nam được cấp phép. Công ty sản xuất nước ngoài không thể tự nộp hồ sơ độc lập; đối tác địa phương hoặc công ty dịch vụ sản xuất đứng tên trên giấy phép và chịu trách nhiệm pháp lý cho toàn bộ quá trình quay.
Bộ hồ sơ tiêu chuẩn bao gồm: tài liệu đăng ký công ty, tóm tắt dự án, lịch quay chi tiết kèm địa điểm cụ thể, danh sách thành viên đoàn, danh mục thiết bị và thư cam kết chịu trách nhiệm. Đối với đoàn nước ngoài, cần bổ sung thư bảo lãnh từ đối tác Việt Nam.
Thị thực là một yêu cầu riêng biệt. Diễn viên và thành viên đoàn phim nhập cảnh Việt Nam để quay phải xin thị thực nhà báo, khác với thị thực du lịch hay thương mại thông thường. Loại thị thực này có thời gian xử lý riêng và, trên thực tế, kéo dài tổng thời gian tiền kỳ nhiều hơn bản thân quy trình xin giấy phép quay.
Flycam là một nhánh giấy phép riêng với cơ quan thẩm quyền và thời gian xử lý độc lập. Sử dụng flycam thương mại yêu cầu phê duyệt từ Bộ Quốc phòng, thông qua Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Thời gian xử lý thông thường là bảy đến mười bốn ngày làm việc. Các hạn chế vận hành bao gồm độ cao tối đa 120 mét, vùng cấm bay trong bán kính tám kilômét quanh sân bay, và khu vực có công trình quân sự hay trụ sở cơ quan nhà nước trung ương.

Giấy phép địa điểm: Một lớp riêng biệt
Giấy phép quay phim trung ương cho phép đoàn hoạt động hợp pháp và được công nhận về mặt chung. Nhưng nó không thay thế giấy phép địa điểm riêng biệt, vốn được đàm phán trực tiếp với chính quyền cấp thành phố và quận.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quay phim tại không gian công cộng, trên đường phố, tại các địa danh nổi bật hoặc trong khu vực thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân quận đều đòi hỏi một lớp chấp thuận địa phương bổ sung. Phí cấp phép địa điểm thường dao động từ 500.000 đến 5.000.000 đồng mỗi địa điểm; phong tỏa đường có thể cao hơn đáng kể. Những giấy phép này không được quản lý tập trung: các công ty sản xuất có hiện diện địa phương và quan hệ thể chế sẵn có xử lý lớp này hiệu quả hơn nhiều so với các đoàn mới đến không có cơ sở vùng.
Phân biệt giữa quay ngoài trời và quay trong cơ sở tư nhân có ý nghĩa thực tế rõ ràng. Các buổi quay thực hiện hoàn toàn trong studio tư nhân, không sử dụng đường công cộng hay không gian do nhà nước quản lý, không phát sinh yêu cầu giấy phép tương tự. Phần lớn hoạt động sản xuất tại Thành phố Hồ Chí Minh, cho các nhãn hàng và nhà quảng cáo làm việc với studio địa phương, diễn ra trong khuôn khổ cơ sở tư nhân này và có tải hành chính nhẹ hơn.
Lập kế hoạch thời gian cho khách hàng quốc tế
Các chuyên gia sản xuất đều nhất quán khuyến nghị dành tối thiểu sáu đến tám tuần cho giai đoạn tiền kỳ với các dự án thương mại quốc tế tại Việt Nam. Phép tính khá rõ ràng: giấy phép quay phim trung ương (tối thiểu mười ngày làm việc), thị thực nhà báo (thường song song, khoảng hai đến ba tuần), giấy phép flycam nếu cần (bảy đến mười bốn ngày), và chấp thuận địa điểm với chính quyền cấp quận (thay đổi theo quận và loại không gian).
Về ngân sách, bản thân chi phí giấy phép khá khiêm tốn so với tổng chi phí sản xuất. Giấy phép quay tiêu chuẩn miễn phí đến khoảng 2.000.000 đồng. Giấy phép flycam thêm từ 2.000.000 đến 10.000.000 đồng. Chi phí thực chất nằm ở lớp đối tác địa phương và dịch vụ sản xuất, không phải ở các khoản phí nhà nước.
Thành phố Hồ Chí Minh trong bức tranh sản xuất khu vực
Kinh tế số Đông Nam Á đạt hơn 300 tỷ đô la GMV trong năm 2025, tăng trưởng khoảng 15% so với năm trước, theo báo cáo e-Conomy SEA của Google, Temasek và Bain. Thị trường sản xuất video thương mại là ngành hưởng lợi trực tiếp từ quỹ đạo tăng trưởng đó, khi các thương hiệu trên toàn khu vực mở rộng sản xuất nội dung để theo kịp nhu cầu phân phối kỹ thuật số.
Thái Lan đã đẩy mạnh thu hút chi phí sản xuất nước ngoài, nâng mức hoàn tiền lên đến 30% chi phí địa phương đủ điều kiện từ tháng 1 năm 2025, không có mức trần tối đa, theo Văn phòng Phim Thái Lan. Năm 2024, Thái Lan thu hút 491 sản xuất nước ngoài. Malaysia duy trì mức hoàn tiền thực tế 30 đến 35% qua chương trình FIMI. Việt Nam chưa xây dựng cơ chế ưu đãi tương tự, nhưng đã đặt điện ảnh và quảng cáo là các ngành ưu tiên quốc gia trong Quyết định số 2486/QĐ-TTg, với mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa lên khoảng 7% GDP vào năm 2030.
Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký thu hút 8,37 tỷ đô la vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm 2025, tăng 24,2% so với năm trước, với Singapore là nguồn đầu tư lớn nhất, theo dữ liệu chính thức của thành phố. Sự dịch chuyển vốn đó tạo ra một nền tảng ngày càng mở rộng gồm các thương hiệu đa quốc gia có nhu cầu sản xuất video thương mại tại địa phương, ngay cả khi chưa tính đến các ưu đãi quốc tế.
Đối với các công ty sản xuất đang đánh giá Thành phố Hồ Chí Minh như một điểm đến quay phim thương mại, cơ sở hạ tầng pháp lý có thể điều hướng được và tiến độ có thể dự đoán được, miễn là lịch tiền kỳ tính đủ toàn bộ bộ giấy phép từ đầu. Các studio đặt tại thành phố, như Hoang Films, một hãng phim tại TP HCM, xử lý thủ tục giấy phép như một phần của dịch vụ sản xuất tích hợp, đảm nhận yêu cầu đối tác địa phương và quan hệ cấp quận mà các đoàn quốc tế đến lần đầu sẽ phải tự xây dựng từ đầu.
Lợi thế của Việt Nam với khách hàng quốc tế không nằm ở hiệu quả hành chính. Nó nằm ở tổng chi phí sản xuất với ngưỡng chất lượng cạnh tranh, một thị trường nội địa ưu tiên thiết bị di động và video, cùng một cơ sở hạ tầng gồm các nhà sản xuất phim tại Việt Nam ngày càng lớn mạnh và có khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Quy trình giấy phép là điều kiện đầu vào. Đó không phải là câu chuyện chính.
